Các loại thực phẩm có chứa ĐTTN được chia làm 2 loại: Thực phẩm có nguồn gốc động vật như cá nóc, cóc, con so, bạch tuột xanh, mật cá,... và thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật như nấm độc, lá ngón, khoai mì,… Tùy vào loại thực phẩm, cách chế biến và lượng tiêu thụ mà người ăn có thể bị ngộ độc và biểu hiện với các mức độ khác nhau như nôn ói, rối loạn cảm giác, co giật, hôn mê hoặc mạch nhanh, tăng hoặc hạ huyết áp, rối loạn nhịp tim, tím tái, khó thở, ngừng thở…
Tình hình ngộ độc thực phẩm giai đoạn 2017 - 2020
Qua theo dõi của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm từ năm 2017 đến nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xảy ra 11 vụ NĐTP, số vụ ngộ độc tăng lên qua từng năm. Nếu trong 2 năm 2017, 2018 chỉ ghi nhận 01 vụ/năm thì sang năm 2019 số vụ ngộ độc là 03 và năm 2020 là 06 vụ, chiếm cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Về nguyên nhân: Ngộ độc nghi do vi sinh vật chiếm cao nhất (06 vụ chiếm 55%), trong đó 01 vụ từ bếp ăn tập thể, 05 vụ do thức ăn đường phố. Ngộ độc do ĐTTN là 04 vụ (chiếm 36%), trong đó có 01 vụ do ăn cá nóc tại xã ven biển, 02 vụ do ăn phải nấm lạ và 01 vụ do ăn củ sắn (củ mì) tại các xã miền núi. Tất cả 5 trường hợp tử vong đều xuất phát từ độc tố tự nhiên, chiếm 100% số ca tử vong do NĐTP trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Khi tiến hành điều tra xử lý các vụ ngộ độc do ĐTTN thời gian qua, chúng tôi ghi nhận thực trạng chung là: các ca ngộ độc đều không được sơ cấp cứu kịp thời, khi đến bệnh viện bệnh đã diễn biến nặng đồng thời địa phương chậm báo cáo đến các cơ quan chức năng; hầu hết các cơ sở y tế trên địa bàn khi sơ cấp cứu, điều trị người bệnh ngộ độc thường chậm hoặc là không thông tin đến Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm; các vụ ngộ độc thường khu trú trong gia đình, sau khi chế biến được sử dụng hết ngay, không thu thập được mẫu thức ăn để tìm hiểu nguyên nhân và kịp thời cảnh báo cho cộng đồng. Để xảy đến tình trạng ngộ độc do ĐTTN trên địa bàn, chúng tôi rút ra được một số nguyên nhân sau:
Một, về dịch tễ các vụ ngộ độc do ĐTTN thường xảy ra ở những vùng sâu vùng xa, núi cao, ven biển; điều kiện tiếp cận với thông tin phòng tránh ngộ độc và dịch vụ y tế khi xảy ra ngộ độc rất hạn chế nên tỉ lệ mắc và tử vong thường rất cao.
Hai, mạng lưới nhân viên y tế cơ sở mỏng cộng với kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, xử lý ngộ độc thực phẩm và đặc biệt là ngộ độc do ĐTTN hạn chế. Hoạt động đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tuyến xã chưa được chuyên môn hóa, thiếu sự chỉ đạo và hỗ trợ của chính quyền địa phương.
Ba, công tác tuyên truyền cho người dân về sử dụng thực phẩm an toàn chưa hiệu quả, thiếu trọng tâm theo đặc thù từng vùng núi cao, biển và ven biển.
Bốn, đời sống người dân đặc biệt là vùng núi rất khó khăn, thực phẩm khan hiếm, cộng với nhận thức thu hái, khai thác và sử dụng thực phẩm không an toàn còn hạn chế, khi bắt gặp các loại thực phẩm này họ thường mang về cho cả gia đình sử dụng, khi bị ngộ độc lại để tình trạng bệnh nặng mới chuyển đến bệnh viện tuyến trên, không báo chính quyền địa phương hoặc đến trạm y tế.

Để phòng chống ngộ độc do các loại độc tố tự nhiên, chúng ta cần triển khai các biện pháp cụ thể sau:
1, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức ATTP và biện pháp phòng chống ngộ độc thực phẩm do ĐTTN cho cộng đồng, đặc biệt khuyến cáo người dân tuyệt đối không sử dụng hoa quả, động thực vật, hải sản lạ, nghi ngờ có độc để ăn uống dù chỉ một lần. Khi xuất hiện các triệu chứng ngộ độc cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu, điều trị kịp thời.
2, Tham mưu, đề xuất và triển khai các giải pháp phòng tránh ngộ độc do ĐTTN phù hợp với thực tế địa phương; huy động sự tham gia của các cấp chính quyền, đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn trong công tác phòng chống NĐTP nói chung và ngộ độc do ĐTTN nói riêng trong động vật, thực vật theo đặc điểm vùng miền, đặc biệt đối với các vùng, các đối tượng nguy cơ cao.
3, Đề xuất qui định đến các cơ sở khám chữa bệnh thông tin ngay đến Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và các cơ quan chức năng khi có người bệnh nghi do NĐTP đến khám và điều trị để tiến hành điều tra, tìm nguyên nhân gây ngộ độc kịp thời xử lý và cảnh báo đến cộng đồng phòng tránh.
4, Các đơn vị y tế trên địa bàn chuẩn bị sẵn sàng các phương án, lực lượng thường trực, phương tiện, vật tư trang thiết bị, thuốc men để kịp thời khắc phục, giảm thiểu ảnh hưởng khi có ngộ độc xảy ra.