PHÒNG CHỐNG NGỘ ĐỘC CÂY LÁ NGÓN

05/02/2024 09:08:00 AM         

Lá ngón là một trong bốn loại cây có độc tính cao nhất, rất giống nhiều cây thuốc, rau ăn được nên dễ gây nhầm lẫn.
1. Giới thiệu về cây Lá ngón
 
- Cây Lá ngón có tên khoa học là Gelsemium elegans. Loài này trước đây được phân loại trong họ Mã tiền (Loganiaceae), nhưng từ năm 1994 đến nay được cho là thuộc họ mới là họ Hoàng đằng (Gelsemiaceae). Lá ngón được người dân gọi với các tên khác như: ngón vàng, thuốc rút ruột, cây rút ruột, co ngón, hồ mạn trường, hồ mạn đằng, hoàng đằng, đoạn trường thảo, câu vẫn,…
 
- Mô tả cây: cây nhỡ, mọc leo, cành nhẵn có rãnh dọc. Lá mọc đối, hình trứng thuôn dài hoặc hình mác, mép nguyên, mặt nhẵn bóng, lá kèm không rõ. Cụm hoa hình chuỳ ở nách lá, dạng ngù. Hoa màu vàng, đài 5 lá đài rời, tràng gồm 5 cánh hoa nhẵn, dính thành ống hình phễu, nhị 5, đỉnh ở phía dưới ống tràng, bầu nhẵn, vòi dạng sợi, đầu nhuỵ 4 thuỳ hình sợi. Quả nang có vỏ cứng, dai, hạt có rìa mỏng bao quanh, mép cắt khía. 
 
- Nơi sống: mọc hoang ở các vùng núi cao từ. Một số thực vật dễ nhầm lẫn với Lá ngón: Bù ốc leo (Lá ngón ăn được), Chè vằng (nhầm lẫn lấy lá uống).
 
2. Độc tố của Lá ngón
 
Các alkaloid chứa trong toàn bộ cây, độc tính giảm dần theo thứ tự rễ, lá, hoa, quả và thân cây; thậm chí mật hoa, ong ăn phải mật cũng có thể bị nhiễm độc. Các alkaloid trong cây Lá ngón gồm: koumin (nhiều nhất), gelsemine, gelsenicin (độc nhất), gelsamydin, gelsemoxonin, 19- hydroxygelsamydin…
 
Chưa có nghiên cứu về các liều gây chết tối thiểu trên người của các độc tố từ lá ngón. Các tài liệu về cây thuốc ở Việt Nam cho thấy lá ngón là cây rất độc, ăn 3 lá có thể đủ gây tử vong. Tác dụng chính của các độc tố là trên các đầu mút dây thần kinh vận động dẫn tới liệt các cơ vân. 
 
3. Phòng chống và xử lý ngộ độc lá ngón
 
* Triệu chứng ngộ độc lá ngón
 
Các triệu chứng ngộ độc xuất hiện khoảng 5 - 30 phút sau ăn/uống. Các triệu chứng chính bao gồm:
 
- Tai mũi họng mắt: Giãn đồng tử, sụp mi (do liệt cơ), song thị, giảm hoặc mất thị lực. Khô miệng, khó nói, khó nuốt.
 
- Tim mạch: nhịp tim chậm.
 
- Hô hấp: khó thở, suy hô hấp do liệt cơ hô hấp.
 
- Thần kinh: Đau đầu, chóng mặt, co giật (khi ngộ độc nặng), khít hàm, cứng các cơ, yếu cơ, liệt cơ.
 
- Da - niêm mạc: vã mồ hôi, đã có báo cáo về trường hợp bệnh nhân bị viêm da sau khi cầm nắm rễ, lá, hoa.
 
- Tác dụng với thai nhi, phụ nữ cho con bú, khả năng gây ung thư đột biến gen: chưa có nghiên cứu nào đánh giá các tác dụng này.
 
* Phòng chống ngộ độc lá ngón
 
Ngộ độc lá ngón xuất phát từ 2 nguyên nhân, do nhầm lẫn hoặc do cố tình sử dụng. Do đó, để phòng chống ngộ độc lá ngón cần thực hiện tốt các công việc sau:
 
- Tuyên truyền kiến thức, tránh các trường hợp ngộ độc do nhầm lẫn với các loại thực vật khác có thể được sử dụng làm thực phẩm. 
 
- Chặt bỏ cây lá ngón. 
 
- Phát hiện và điều trị kịp thời người dân có bệnh lý tâm thần (như trầm cảm, căng thẳng), người dân có ý định và hành vi tự sát. Không để những người này tiếp cận với cây lá ngón. Sau khi đã điều trị ngộ độc ổn định, cần cho các bệnh nhân ngộ độc do tự sát khám và điều trị chuyên khoa tâm thần.
 
* Xử lý ngộ độc lá ngón
 
Xử lý ngộ độc lá ngón cần được thực hiện theo hai nguyên tắc: (1) Xử trí sớm, tích cực, khẩn trương và (2) Phải đảm bảo các chức năng sống ổn định, đặc biệt đảm bảo kiểm soát hô hấp, nhanh chóng cắt cơn co giật, ổn định tuần hoàn trước khi áp dụng các biện pháp khác.
 
Khi phát hiện trường hợp ngộ độc có liên quan đến lá ngón, cần lập tức xử lý gây nôn cho bệnh nhân sau đó nhanh chóng báo cho các cơ quan y tế để xử lý. Các biện pháp cụ thể nhằm xử lý ngộ độc lá ngón như sau:
 
- Hạn chế hấp thu: Gồm các biện pháp như sau:
 
+ Gây nôn: tiến hành khi bệnh nhân mới ăn xong, bệnh nhân tỉnh, hợp tác. Chỉ dùng biện pháp cơ học (kích thích họng), không dùng thuốc gây nôn vì đến khi thuốc có tác dụng, bệnh nhân nôn thì có thể bệnh nhân bị liệt hầu họng, co giật rất dễ sặc phổi.
 
+ Rửa dạ dày: tiến hành khi bệnh nhân mới ăn lá ngón trong vòng 6 giờ.
 
+ Sử dụng than hoạt: Dùng sau khi gây nôn hoặc rửa dạ dày. Không dùng khi đang co giật, suy hô hấp hoặc hôn mê chưa có ống nội khí quản.
 
- Điều trị triệu chứng: Sau khi bệnh nhân được xử trí theo các bước trên, cần theo dõi sát các dấu hiệu co giật, nhịp tim chậm, liệt cơ có thể dẫn đến suy hô hấp. Các biện pháp điều trị hỗ trợ là quan trọng, không có thuốc giải độc đặc hiệu.

 Nguồn: Viện kiểm nghiệm ATVSTPQuốc Gia